KEYNOTE SPEAKER 1: Professor Thai Kim Lan
DIỄN GIẢ CHÍNH 1: GS. Thái Kim Lan
Bach Dang Intercultural Centre, Hue City, Viet Nam
Trung tâm liên văn hóa Bạch Đằng, TP. Huế, Việt Nam

Khái quát về Triết học Liên Văn hóa
Overview of Intercultural Philosophy
Văn hoá và triết học có một tương quan nội tại nền tảng, đến nỗi có thể nói nền tảng của văn hoá là triết học, và ngược lại, nền tảng của triết học là văn hoá, cả hai không thể tách rời. Nếu nhìn văn hoá là tổng thể ý nghĩa của những gì con người tác tạo nên khi xây dựng hiện hữu của chính mình và thế giới chung quanh, văn hoá chính là nổ lực của con người trả lời câu hỏi về ý nghĩa hiện hữu, giá trị của nhân sinh, tất cả những nổ lực phát xuất từ nhu cầu biện biệt đúng sai, truy tìm chân lý, hay nói cách khác từ nhu cầu yêu sự khôn ngoan, minh triết, thay vì sống trong vô minh. Câu hỏi khởi đầu triết học “làm thê nào để có một nhận thức đúng về sự vật” đặt nền tảng cho văn hoá. Từ triết lý về nhận thức đúng, sai, con người xây dựng giá trị nhân văn của mình. Hệ thống triết lý, tư tưởng là thành quả văn hoá. Có thể nói triệt để hơn: nhận diện văn hoá trước tiên chính là nhận diện tư duy của con người trong tương quan với chính mình, người khác và thế giới bên ngoài, có nghĩa nhận diện triết lý sống. Mỗi mẫu văn hoá là một quá trình nhào nặn tương quan giữa chủ thể và khách thể, giữa chủ thể và đối tượng bên ngoài để đạt đến trình độ nhất thể, tự tri như là bản sắc văn hoá. Trong ý nghĩa ấy, I. Kant cho rằng thiên nhiên không khai sinh con người để đạt hạnh phúc mà để đạt được văn hoá. Văn hoá là mục đích cuối cùng của thiên nhiên trong tiến trình thể hiện con người tại thế trở nên tự do. Con đường văn hoá là con đường của minh triết trong tiến trình giải phóng những ràng buộc tự nhiên, con đường của ý thức về tự do. Trên sơ sở triết lý văn học, triết học sắp xếp những tập hợp kinh nghiệm thành một hệ thống bao gồm những câu hỏi mà con người đặt ra và tìm kiếm câu trả lời. Công việc này theo Kant đòi hỏi trước hết một sợi giây hướng đạo tiên thiên, khách quan và phổ quát để tìm ra nguyên lý nhận thức, từ đó điều kiện khả thể của văn hoá được đề ra và khai quang mảnh đất thiên nhiên. Con người yêu thích sự khôn ngoan trong cuộc sống, yêu thích sự khôn ngoan, chân lý, nghĩa của chữ philosophie, bởi vì đặc tính của khôn ngoan là khả năng sắp xếp sự vật có hệ thống, phân biệt và đánh giá, phê phán những điều đã biết và đón nhận những điều mới khác” để có một định hướng đúng đắn cho hiện hữu, như triết gia và thần học gia Thomas von Aquin nhận định “Sapientis est ordinarre et judicare”, tiếp nối truyền thống triết học Aristoteles.
Thiếu sự khôn ngoan sắp đặt, văn hoá sẽ hỗn mang, thiếu biện biệt, phê phán, văn hoá sẽ mất định hướng đúng đắn trong tiến trình biến đổi. Tách rời văn hoá ra khỏi triết học thì văn hoá sẽ bị mù, tách rời triết học ra khỏi văn hoá thì triết học sẽ bị rỗng, mất ý nghĩa tồn tại, chỉ còn là những bóng ma.
Nhưng “văn hoá” là một mảnh đất màu mỡ rộng lớn bao trùm trái đất, và hầu như đặc tính của nó là số nhiều, biến hoá, biến đổi, cho nên không có một nền văn hoá duy nhất vĩnh viễn ngự trị, cũng không thể có một triết học vĩnh cữu vượt thời gian. Hegel vừa hình thành phương án lịch sử thế giới trong ánh sáng lý tính Thiên chúa, thì toà lâu đài của ông đã sụp đổ dưới chân biện chứng duy vật lịch sử của Karl Marx. Thế rồi quá trình lịch sử thế giới cho thấy mỗi hệ thống khép kín giáo điều không thể tồn tại lâu dài, bao lâu bản chất con người, dù trong hoàn cảnh nào, còn là văn hoá, trong nghĩa sẵn sàng tra vấn ý nghĩa để vượt trên hoàn cảnh. Biện chứng văn hoá là một nhu cầu của con người: “Từ bên trong mặc nhiên của sự sống phát sinh sự cởi mở, từ sự yên tĩnh của các đối cực trở nên xôn xao mâu thuẫn và nghịch lý. Con người không còn tự đóng khung chính mình nữa. Nó trăn trở và hoài nghi, và từ những hoài nghi ấy, nó đón nhận những khả năng mới, vô giới hạn. Nó có thể nghe và hiểu những điều mà từ trước không ai hỏi và không ai nói ra.”
Hành trình của con người tự thân mở ra những chân trời văn hoá khác và ông là một trong những triết gia đầu tiên phản tĩnh sâu sắc về những nền văn minh khác nhau trên quả địa cầu đã xảy ra cùng một lúc, làm rõ hi vọng có thể có đối thoại đa phương, trong đó con người đã có những thao thức giống nhau, cùng chung trăn trở đi tìm chân lý, nhưng đã đi những con đường khác nhau trên trái đất, và qua trải nghiệm đã đưa ra những câu trả lời gần với chân lý. Khái niệm „Achsenzeit“ (thời đại trục) của ông, trong đó nhân sinh quan và vũ trụ quan Đông (với Khổng Tử, Lão Trang, Phật Cồ Đàm,..), Tây (Parmenides, Socrates, Platon, Heraklit) hình thành trong cùng một trục thời gian, đã trở nên một “mẫu hình” (Paradigma) cho cuộc đối thoại liên văn hoá.
Phản tư về tương quan nội tại giữa văn hoá và triết học cho thấy hầu như triết học liên văn hoá phải hình thành sớm hơn thời điểm thành danh thập niên 90. Cũng như thật muộn mãi đến khi A. Toynbee là một trong những người đầu tiên viết lịch sử vượt ra ngoài tầm nhìn duy trung tâm châu Âu, tiến hành khảo sát sự thăng trầm của các nền văn hoá khác nhau trên thế giới.
Sự trì trệ giáo điều, bệnh coi mình là trung tâm, chủ nghĩa duy Âu châu tự mãn, tính khép kín hệ thống đã là rào cản cho cuộc đối thoại văn hoá mà lẽ ra triết học phải là chủ thể tác thành đối thoại. Cuộc thảo luận trên sân đại học nước Đức về bình đẳng văn hoá, tinh thần cở mở tiếp cận những nền văn hoá khác cho thấy lý tính khai sáng vẫn bừng nở, chính trên mảnh đất của những hệ thống triết học một thời sáng chói tự mãn đã đạt đến đỉnh cao trí tuệ là nơi triết học liên văn hoá thành danh.
Tuy nhiên đến muộn còn hơn không, mà cũng không muộn, bởi lẽ triết học liên văn hoá đã có tiền thân là môn triết học so sánh, đối chiếu, đã có một kỷ luật nghiên cứu vững chãi đến nỗi Masson-Oursel cho rằng “triết học đích thực là triết học so sánh”.
KEYNOTE SPEAKER 2: Prof. Jean Noriyuki NISHIYAMA
DIỄN GIẢ CHÍNH 2: GS. Jean Noriyuki NISHIYAMA
Kyoto University, Japan
Đại học Kyoto, Nhật Bản

Sự phát triển của liên văn hóa ở Nhật Bản: quan niệm và thực tế
L’évolution de l’interculturel au Japon : la notion et la réalité
Cette intervention cherche à dégager l’évolution de la perception de l’interculturel dans la société japonaise après la deuxième Guerre mondiale. La notion d’interculturel, importée des États-Unis dans les années 60, n’a été exploitée que dans le contexte de l’enseignement de l’anglais, en termes de communication interculturelle, tandis que des éléments sociaux liés à l’interculturel sont apparus dans la société japonaise durant la même période. Les enfants japonais ayant vécu à l’étranger en raison de l’expatriation professionnelle des parents et revenus par la suite au Japon, sont un exemple particulièrement représentatif des réactions souvent négatives de la population japonaise vis-à-vis de ces enfants marqués par l’influence de cultures étrangères. D’autres exemples comme celui de la situation des réfugiés indochinois auraient dû provoquer une réflexion sur l’interculturel mais cette notion est restée largement ignorée.
La présente communication se propose de mettre en lumière l’évolution de cette notion d’interculturel au cours des cinquante dernières années, afin de réfléchir sur cette notion novatrice, tributaire du contexte historique comme du contexte social et politique.
KEYNOTE SPEAKER 3: Dr. Nannaphat Saenghong
DIỄN GIẢ CHÍNH 3: TS. Nannaphat Saenghong
Faculty of Education, Chiang Mai University, Thailand
Khoa Sư phạm, Trường ĐH Chiang Mai, Thái Lan

Thúc đẩy giáo dục liên văn hóa thông qua việc chuẩn bị cho giáo viên về năng lực đa văn hóa: Phân tích diễn ngôn chính sách ở Đông Nam Á
Advancing Intercultural Education through Teacher Preparation for Multicultural Competence: A Policy Discourse Analysis in Southeast Asia
This contribution examines teacher preparation for multicultural competence (MC) within the Southeast Asia Teacher Competency Framework (SEA-TCF) and across five ASEAN nations: Malaysia, Singapore, Indonesia, Vietnam, and Thailand, through the lens of Gorski's (2009) five approaches to multicultural teacher education. These approaches include Teaching about "Others," Teaching with Cultural Sensitivity and Tolerance (TCS), Teaching with Multicultural Competencies (TMC), Teaching in Sociopolitical Context (TSC), and Teaching as Resistance and Counter-Hegemonic Practice (TR). The study highlights how TCS and TMC are prominently integrated within the SEA-TCF and national standards, while also identifying gaps in the inclusion of TSC and TR, which are essential for fostering deeper engagement with social justice and addressing systemic inequalities in education. By employing Gorski's framework, the paper offers insights and implications for advancing intercultural education by promoting the development of multicultural competence among teachers.
Keywords: Multicultural competence, intercultural education, teacher preparation
Keynote Speaker 4 : Dr. NAKOULMA Mariame Viviane
Diễn giả chính 4: TS. NAKOULMA Mariame Viviane
Giám đốc Giáo dục của Bằng Đại học (DU) Quản lý Xung đột, Hòa giải, Liên văn hóa, Đại học Catholique de Lyon (UCLy)
Educational Director of the University Diploma (DU) Conflict Management, Mediation, Interculturality, Catholic University of Lyon (UCLy)

Giải quyết căng thẳng giữa bình đẳng và đa dạng trong giáo dục liên văn hóa theo Công ước quốc tế (UNESCO) chống phân biệt đối xử trong giáo dục
Résoudre les tensions entre égalité et diversité dans l’éducation interculturelle à la lumière de la Convention internationale (UNESCO) relative à la lutte contre la discrimination dans le domaine de l'enseignement
Keynote Speaker 5 : Dr. PHAN-LABAYS Thi Hoai Trang
Diễn giả chính 5: TS. PHAN-LABAYS Thị Hoài Trang
Phó Giám đốc phụ trách đào tạo tại Viện Quốc tế Pháp ngữ, Đại học Jean Moulin Lyon
Deputy Director in charge of training at The International Francophone Institute, Jean Moulin Lyon University

Liên văn hóa và việc giảng dạy tiếng Pháp ở Việt Nam
L’interculturalité et l’enseignement de la langue française au Vietnam
Il est indéniable que la langue française a été introduite au Vietnam avec l’implantation de l’administration coloniale française en fin du 19è siècle. Petit à petit, la culture vietnamienne a dû confronter à une nouvelle culture occidentale très éloignée de ses fondements sud-est asiatique et chinois. Ces rencontres interculturelles se sont avérées en fin de compte, fructueuses notamment pour la société vietnamienne. Certes, les transformations culturelles du Vietnam au contact de la France coloniale se sont réalisées principalement dans les centres urbains où se sont concentrés les Français. Il est à souligner que le Vietnam n’était jamais une colonie de peuplement comme c’était le cas de l’Algérie française. Comment conséquent, la société vietnamienne a connu des bouleversements sans précédent pendant 80 ans de la présence française, et ceci concerne plusieurs domaines : administration, mœurs et coutumes, langue, éducation, science, art, économie, architecture …Ces transformations culturelles parfois subies et forcées, parfois réclamées et appropriées par les Vietnamiens ont façonné de l’intérieur leur société dans les premières décennies du 20è siècle. Une nouvelle classe d’intelligentsia imprégnée des valeurs progressistes et européennes est née. Elle a grandement contribué à une prise de conscience d’un nouveau Vietnam libre, indépendant et prospère.
Ainsi, le phénomène francophone au Vietnam est hérité de ces vestiges coloniaux. Apprendre la langue française devrait se concevoir non seulement comme un outil de communication international lié à son statut international mais aussi une clé d’accès à la compréhension d’un pan de l’histoire contemporaine du Vietnam tout comme de son identité culturelle. La promotion de l’apprentissage de la langue française et de la francophonie au Vietnam aurait donc tout à gagner si elle s’inscrivait dans une démarche interdisciplinaire et interculturelle.
admin post: 2024-12-05 7:38:34 AM
Related posts